Thiên Bàn  Thờ Tại Tư Gia

 

*  Giáo Hữu Thượng Lư Thanh .Ban Tủ Thư Đạo Đức Học Đường

 

Lời nói đầu: Đức Chí Tôn hoằng khai Đại Đạo kỳ ba để tận độ chúng sanh, muốn thể hiện cơ tận độ cho có hiệu năng, nên Đức Chí Tôn cho phép mỗi người được thờ Ngài tại mỗi tư gia, tất nhiên mỗi gia d́nh Đại Đạo đều có đấng Thượng Đế toàn năng ngự trị và mỗi tín hữu đều có một Đấng Tối cao ở tư gia để chiêm ngưỡng và lễ bái. Như vậy mỗi người phải am hiểu cách sắp đặt sự thờ cúng trên Thiên bàn, phải thuộc kinh và phải lể bái (công phu) hằng ngày để trao luyện tâm linh ḿnh cho minh mẩn sáng suốt. Thánh ư Đức Chí Tôn muốn luôn luôn phải có Ngài ở bên cạnh con cái của Ngài, hầu d́u dắt, dạy dổ để đem con cái của Ngài trở về hội hiệp cùng Ngài nơi cỏi thiêng liêng hằng sống. Gặp kỳ đại ân xá này mà chúng ta không tu luyện th́ rất uổng cho một kiếp sanh ngộ Đạo, ta không thể đổ thừa rằng: mắc bận việc gia d́nh thế sự, không thể thí phát quy y vào am tự mà tu hành, hay vào núi thẵm rừng sâu để mà tầm Tiên học Đạo được nữa. V́ Đức Chí Tôn, và Thần, Thánh, Tiên, Phật đă đến tận nơi nhà của chúng ta rồi. Ngài xưa th́ người đi tầm Đạo, ngài nay th́ Đạo đến tầm người. Nhưng đôi khi có người củng chưa am tường sự quư báu vô giá của cơ mầu nhiệm mà Đức Chí Tôn đă đem đến cho ḿnh, và ư nghĩa sự thờ cúng trên Thiên bàn, nên có phần thiếu sót bổn phận đối với Đức Đại Từ Phụ phải lắm công nhọc nhằn, củng v́ ḷng đại từ bi phải hạ ḿnh mà dẫn độ chúng ta, bằng những lời vàng tiếng ngọc :

" Cao Đài tá thế đến phàm gian,

Bạch Ngọc Huỳnh Kim cũng chẳng màng .

Ch́u lụy đôi phen xem qúa tục ,

Nghỉ không đổ lụy củng cười khan .

Cười khan mà khóc bởi thương bày ,

Chẳng mất một con, nghiệt cả bầy .

Biết phận già không chờ chống gậy ,

Nương theo con dạy mới ra vầy ."

Xem qua lời vàng tiếng ngọc của Đức Chí Tôn, chắc quư vị không khỏi ngậm ngùi cảm động. Nay tôi cố gắng biên soạn một tập nhỏ nầy, dẫn giải việc thờ cúng trên Thiên bàn, hầu cống hiến quư vị xem qua để am tường phần nào trong việc sùng kính Đức Chí Tôn. Thánh ngôn Đức Chí Tôn : THẦY, các con Chư môn đệ nghe ! Phần nhiều trong các con chẳng để ḷng thờ kính Thầy, tưởng cho đem thờ Thầy vào nhà là chủ ư cầu việc lợi riêng chi cho gia quyến vậy thôi, chớ chẵng hiểu là một nguồn trong sạch để rửa các lổi phàm tục của các con. Nhiều đứa lại c̣n mơ hồ, đă thờ Thầy mà c̣n chưa chắc ư rằng thờ đặng chi, và mở đạo ra có ích ǵ.

Than ôi! Đă bước chân vào đường đạo hạnh mà chẵng để công t́m kiếm, học hỏi cho rơ ngọn nguồn, th́ làm phận sự môn đệ như thế có ít chi cho nền Thánh giáo đâu ? Đạo Trời khai ba lượt, người tục lỗi muôn phần, sanh đứng vào thế cuộc, chưa biết ḿnh đă lănh một vai tuồng, đặng chờ lúc kết quả đặng hồn qui Thiên ngoại, lánh khỏi xác phàm trở về nơi khởi hành mà phục các điều đă thi hành giữa sân khấu trần ai khốn đốn này ; phận chừa xong phận, thân chẵng nên thân, thân phận lo tính chưa rồi, c̣n mong mỏi chi dụng ḿnh vào đường đạo đức để cho có ích chung nữa đặng ! Lương tâm của các con là một khiếu thiêng liêng của Thầy ban để sửa trị riêng các con trong đường tội lổi và ban thưỡng trong việc nhơn đức ; làm một việc phải tức là do theo ư Trời ; phạm một nét vạy tà là cải nơi Thiên luật ; phải quấy Thần Thánh chỉnh chép biên, thưởng phạt duy đợi ngày chung cuộc ! Khá biết lấy ! Ư nghĩa và cách sắp đặt trên Thiên Bàn thờ tại tư gia " Lập vị Thượng Đế th́ phải lựa nơi nào cho tinh khiết, tốt hơn là ở giữa nhà, lập tran thờ cho cao và treo màn cho khuất chổ thờ phượng " Theo như lời tựa vừa dẫn giải ở trang trước, thế nên Hội Thánh dạy người Đạo sắp đặt Thiên Bàn thờ cúng Đức Chí Tôn theo h́nh chữ CHỦ với 12 phẫm vật tượng trưng cho Thập Nhị Khai Thiên là Đức Chí Tôn, Chúa Tể cả Càn Khôn Thế Giới như dưới đây : Thiên Bàn tượng trưng cho cả Càn Khôn Thế Giới do Đức Chí Tôn làm chủ, nay Ngài đến lập tam Kỳ Phổ Độ, chính ḿnh Ngài làm Giáo Chủ mà độ dẫn chúng sanh khỏi kiếp luân hồi qủa báo, nên người Tín đồ Đạo Cao Đài chỉ lập bàn thờ, thờ Đức Cao Đài là đủ, không c̣n lập bàn thờ để thờ Thần, Thánh, Tiên, Phật chi riêng làm chi cho mất vẻ tôn nghiêm. Nên khi sắp đặt phẫm vật trên Thiên Bàn phải cho thật ngay ngắn, nếu sắp không ngay th́ trật nét chử, trật một nét th́ không chánh đáng, rất có hại cho đức tin của người thờ cúng không nghiêm chỉnh.Dưới đây là phần ư nghĩa của mỗi phẩm vật thờ cúng trên Thiên Bàn.

1 và 2 : Thánh tượng Thiên Nhăn và Đèn Thái Cực là tượng trưng Đức Thượng Đế là một Đấng Thánh Hoàng trước Ngôi Thái Cực. Đèn Thái Cực, Thánh Giáo có dạy: " Thầy giải về Vô Cực Đăng ".  " Trước khi chưa phân Trời Đất, th́ khí Hư Vô bao quát Càn Khôn, sáng soi đầy trong Vủ Trụ nó là một cái trung tâm điểm, tức là Đạo, Đạo ấy mới sanh ra Thái Cực, hoá lưỡng nghi là Âm Dương (động với tịnh). Có Âm Dương rồi mới có hóa sanh muôn vật  ".

" Ngọn đèn các con thờ chính giữa, đó là giả mượn làm tâm đăng, Phật, Tiên truyền đạo củng tại đó, nó ngay chính giữa, không lay động, xao xuyến, chiếu thấu khắp cả Càn Khôn.

" Mặt Nhật, mặt Nguyệt, có lúc sáng, lúc tối, chớ nó th́ lúc nào củng tỏ rạng không lu mờ, nhơn vật nhờ đó mà sanh, nhờ đó mà thành, nhờ đó mà an vui. " Trời Đất nhờ đó mà quang minh trường cửu, người tu hành nhờ đó mà tạo Phật tác Tiên siêu phàm nhập Thánh, hể chỉnh qua bên tả, th́ tả Đạo; hể chỉnh qua bên hửu, th́ Bàn Môn; ngay ở giữa là Chánh Đạo.

" Các con nên tường lư ấy. Lư ấy ở trong tâm, tâm an tịnh vô vi tự nhiên bất động là Chánh Đạo, tâm c̣n tính mưu thần, chước quỉ, độc ác, hiễm sâu, ấy là Bàn Môn, Tả Đạo, chớ chi các con. "

 

Thái Thượng         Thích Ca        Khổng Thánh

Quan Âm            Thái Bạch      Quan Thánh                           Giê-Giésu

                              Khương Thượng

                              Giáo Tông

 

Thánh Tượng Thiên Nhăn (Ngũ Chi) Trong thời kỳ nền Đạo mới phôi thai, Hội Thánh ban cho toàn Đạo thờ Thánh Tượng "Ngũ Chi", trong Thánh Tượng phần dưới Thiên Nhăn Thầy có in h́nh các Đấng Giáo Chủ thời xưa, Tam Giáo, tam trấn, Ngũ Chi. Đó là cách thờ phượng Tam Giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhất.

TAM GIÁO: ở giữa là Đức Phật ThíchCa, Giáo Chủ Phật Đạo - Phía hữu là Đức Thái Thượng Đạo Tổ, Giáo Chủ Tiên Đạo - Phía tả là Đức Khổng Thánh Tiên Sư, Giáo Chủ Thánh Đạo.

TAM TRẤN: thay mặt cho Tam Giáo trong buổi Tam Kỳ Phổ Độ. Ở giữa là Đức Lư Thái Bạch chủ về Tiên Đạo - Phía hữu là Đức Phật Quan Âm chủ về Phật Đạo - Phía tả là Đức Quan Thánh Đế Quân chủ về Thánh Đạo.Đức Chúa Giê-Giu Giáo Chủ Thánh Đạo - Đức Khương Thái Công Giáo Chủ Thần Đạo.

Có 7 cái Ngai thể về Nhơn Đạo:

. Ngai Giáo Tông

. Ngai Chưởng Pháp

. Ngai Đầu Sư

Từ dưới kể lên trên là Ngũ Chi:

. Nhơn đạo

. Thần Đạo

. Thánh Đạo

. Tiên Đạo

. Phật Đạo

 

Thánh Tượng Thiên Nhăn (Tam Trấn)

Sau Hội Thánh chấn chỉnh lại để ban cho toàn Đạo thờ Thánh Tượng "Tam Trấn" cho đến hiện nay. Trong Thánh Tượng Tam Trấn không có in h́nh các Đấng Giáo Chủ, nhưng phần dưới Thiên Nhăn Thầy có ba khuôn vẽ bằng Cổ Tự, đó là Thánh Danh của các Đấng Tam Trấn Oai Nghiêm trong buổi Tam Kỳ Phổ Độ là : Quan Âm Bồ Tác, Thái Bạch Kim Tinh, Quan Thánh Đế Quân . Về tương lai sau nầy, chắc có lẽ Hội Thánh ban cho toàn Đạo thờ theo Thánh Tượng Ngũ Chi y như trước, đồng nhất luật một theo khuôn mẫu do Hội thánh ấn định.

10 và 12 hai cây đèn, gọi là lưỡng nghi quang, tượng trưng cho Nhựt Nguyệt, Âm Dương soi sáng khắp cả Càn Khôn Vũ Trụ, tức là Thái Cực sanh lưỡng nghi.

3 và 4 Trái cây và bông, tượng trưng cho bốn mùa, khí hậu ôn ḥa, muôn loài sanh trưởng, thảo mộc tươi nhuần, cành lá xum suê đơm bông trổ trái, tức là lưỡng nghi sanh tứ tượng. Tứ tượng c̣n có nghĩa là trong chữ (+) thập ấy âm dương gác lên nhau mới ló ra bốn cánh mà gọi rằng "Tứ tượng thành h́nh". Bốn cánh ấy phân ra Đông, Tây, Nam, Bắc.

Trái cây tượng trưng cho Hậu Thiên ngũ vị đối với Tiên Thiên ngũ khí là năm cây hương hay ngũ sắc là năm sắc hoa. Trái cây c̣n biểu hiện cho người tu hành được thành công đắc quả. B́nh bông biểu hiện cho sự xanh tươi tốt đẹp, chỉ vể Tinh là h́nh thể con người, năm sắc là tượng trưng cho năm giống dân trên Thế giới: vàng, trắng, đỏ, xanh, đen. Dâng hiến bông là dâng hiến thể xác của chúng ta cho Đức Chí Tôn tuỳ phương sử dụng và xin Đức Chí Tôn ban ân lành cho thể xác chúng ta tươi tắn như hoa kia vậy.

Bởi thế, Đạo Cao Đài không phân biệt màu hoa sắc tóc, coi nhau như là con chung của Đấng Thượng Đế là anh em một nhà, này nào năm sắc dân trên quả địa cầu này biết nh́n Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế Chúa Tể cả Càn Khôn vạn loại là cha chung, đồng đàng kiến lể hoà lên Ngài, th́ ngày ấy là ngày đại đồng Huynh Đệ, được hưỡng thái b́nh thịnh trị vậy.

"Năm sắc hoa tươi xin kỉnh lễ"

"Cúi mong Thượng Đế rưới ân thiên"

11 Lư hương : lư hương tượng trưng cho Càn Khôn Vủ Trụ và sự sanh biến vô cùng, tứ tượng biến bát quái, bát quái sanh biến vô cùng. Trong Kinh Nhựt tụng có dạy: "Khi cúng Thầy phăi đốt cho đủ 5 cây hương, cắm hàng trong 3 cây, gọi là Ân Tam Tài, thêm hàng ngoài 2 cây nữa gọi là Tượng Ngũ Khí ".

Theo lời dạy bảo trên đây, hàng ngày cúng Đức Chí Tôn đốt đủ 5 cây hương thật là huyền vi mầu nhiệm vô cùng. Ân Tam Tài. Tam Tài là Thiên, Địa, Nhơn (Trời, Đất, Người) hay Phật, Pháp, Tăng.

Trong Vủ Trụ có Thiên, Địa, Nhơn. Riêng về bản thân con người th́ Tinh, Khí, Thần được xem là Tam Tài. Cắm hàng ngoài 2 cây tượng Ngũ, Khí. Bát Quái sanh ngũ hành, ngũ hành biến ngũ khí, ngũ khí biến ngũ sắc. Ngũ khí tức là ngũ hành chi khí.

Trời có 3 món báu là :  Nhựt, Nguyệt, Tinh, hay là Tam Ngươn Thượng, Trung, Hạ. Trời nhờ ba món báu ấy mà dưỡng dục muôn loài, hóa sanh vạn vật, luân chuyễn Càn Khôn, mới chia ra ngày, đêm, sáng, tối.

Đất có 3 món báu là :  Thủy, Hỏa, Phong, Đất nhờ 3 món báu ấy mà phong vủ đều ḥa, cỏ cây tươi nhuận, phân ra thời tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Người có 3 món báu là : Tinh, Khí, Thần.  Tinh tức là một chất tinh ba được lọc thật kỷ ở trong người để tư nhuận cho cơ thể như : nước mắt, nước miếng, mồ hôi ... nói chung là h́nh thể con người.Khí tức là chánh khí ở trong thân thể con người nhờ nó mà con người luôn mạnh khoẻ, một khi chánh khí suy th́ tà khí ở ngoài xâm nhập, sinh ra bệnh hoạn. Thần thuộc về phần thiêng liêng, linh diệu trong cơ quan suy tư cảm giác của con người, Nó vốn bất tiêu, bất diệt. Ấy là điểm linh quang do Chơn Linh của tạo hóa ban cho. Người nhờ ba món báu ấy mà tạo Tiên, tác Phật.

Trời có ngũ khí là : Ngũ hành chi khí. Đất có ngũ hành là : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Người có ngũ tạng là : Tâm, Cang, Tỳ, Phế, Thận . Thế giới có ngũ châu là : Á, Âu, Phi, Mỹ và Úc châu. Về Phật, Pháp, Tăng, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy :

" Khai Thiên, Địa vốn Thầy. Sanh Tiên, Phật cũng Thầy ; Thầy đă nói một Chơn Thần mà biến Càn Khôn Thế Giái và cả nhơn loại, Thầy là chư Phật, chư Phật là Thầy. " Các con là chư Phật, chư Phật là các con. " Có Thầy mới có các con, có các con rồi mới có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế Giái nên mới gọi là Pháp, Pháp có mới sanh ra Càn Khôn vạn vật rồi mới có người nên gọi là Tăng." Thầy là Phật chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các đạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy."

Đức Chí Tôn lập thành các đạo th́ có Tam Giáo Ngũ Chi.Tam Giáo là : Phật, Tiên và Thánh.. Ngũ Chi là : Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, và Phật đạo.. Nay Đức Chí Tôn đến qui nguyên Tam giáo, phục nhứt Ngũ Chi, nên đốt năm cây hương là tượng trưng sự qui nguyên và phục nhứt ấy.

Tam giáo có dạy : Phật dạy : Tam Qui, Ngũ Giới. Tiên dạy : Tam Bửu, Ngũ Hành. Thánh dạy : Tam cang, Ngũ Thường (trong Tam cang Ngũ Thường có Ngũ Luân) Tam Qui là:

1- Qui y Phật : Phật dạy người học theo lời Phật, lo tu dưỡng để trở về nguyên tánh trong người, tức là tánh Phật. " Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh. "

Tiên dạy người làm tṛn bổn phận vua tôi, tức là Quân Thần Cang. Làm tṛn bổn phận vua tôi th́ tịnh dưỡng được ngươn thần và trở về với tánh Phật.

Tại sao ? Quân Thần Cang là Ngươn Thần, vị thần ở trong ḿnh con người như vị Đế Vương cai quăn một quốc gia. Hễ vị Đế Vương hôn muội th́ quốc dân bất minh, chư hầu bất phục, làm sao chữa bịnh quốc gia.

2- Qui y Pháp : Phật dạy người học theo Đạo Pháp, mới thiền định được tâm thần, khích phách, trí nảo mới được sáng suốt, có sáng suốt mới đoạt được đạo pháp vô vi.

Tiên dạy người phải giử ǵn ngươn khí Thánh dạy người phải làm tṛn bổn phận cha con, là Phụ Tử Cang, tức nhiên là giử ǵn được ngươn khí Khí trong người, đứng trung gian đặng liên tiếp với Tinh và Thần, như đối với quốc gia, khí là chư hầu, bá tước để liên tiếp với vua mà cai trị con dân vậy.

3- Qui y Tăng : Phật dạy người phăi giử ǵn thân thể cho được mạnh mẻ và tinh vi, không để vật dục lôi cuốn làm thân thể bị hao ṃn, thân thể khoẻ mạnh, tinh thần mới sáng suốt " Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện ".

Tiên dạy người phải bảo tồn ngươn tính. Ngươn tính cũng như con dân trong một nước. Hễ Chúa Thánh - Quan Trung - Tôi Hiền th́ quốc gia mới thạnh trị. Người tu luyện Tinh, Khí, Thần được hiệp nhứt, tức nhiên được đắc đạo thành Tiên, hoá Phật. " Nhơn Đạo thành th́ phù hạp với Thiên Đạo vậy. Nhơn Đạo bất tu, Thiên Đạo diển hỉ. "

NGŨ GIỚI là : Phật dạy ngũ giới cấm là 5 điều răn cấm NHỨT BẤT SÁT SANH, là chẵng nên sát hại sanh vật. Người không sát sanh th́ biết tu tâm. Hỏa khí không bị hao ṃn và giử được ḷng Nhân, là người có Nhân.

Nhị bất du đạo, là cấm trộm cướp. Người không trộm cướp th́ Can (gan) không bị sao động, mộc khí không bị hao ṃn, tức nhiên giữ được chữ Nghĩa, là người có Nghĩa. Tam Bất Tà Dâm, là cấm lấy vợ người, thả theo đàng điếm, xúi dục người làm loạn luân thường, hoặc thấy sắc dậy ḷng tà, hoặc lấy lời gieo t́nh huê nguyệt. Người không tà dâm, th́ không bị bại Thận, Thủy khí không bị hao ṃn, tức nhiên giữ được chữ Lễ, là người có Lễ. TỨ BẤT TỬU NHục, là cấm say mê rượu thịt, ăn uống quá độ, rối loạn tâm thần, làm cho náo động xóm làng, hoặc miệng ước rượu ngon, bụng mơ đồ mỹ vị. Người không ăn uống quá độ, th́ không bị phạt Tỳ, Thổ khí không bị hao ṃn, tức nhiên giử được chử Trí, là người có Trí. Ngũ bất vọng ngữ, là cấm xảo trá, láo xược, gạt gẩm người, khoe ḿnh, bày lỗi người, chuyện quấy nói phải, chuyện phải thêu dệt thành quấy ; nhạo báng, chê bai ; nói hành kẻ khác ; xúi dục người hờn giận ; kiện thưa xa cách ; ăn nói lổ măng, thô tục ; chửi rủa người ; hủy báng Tôn giáo ; nói ra không giử lời hứa. Người không nói dối, nói nhiều lời thất đức, th́ cái Phổi được yên tịnh, Kim khí không bị hao ṃn, tức giử được chử Tín, là người có Tín, đáng tin cậy.

Đó là : " Một cội xin ba nhánh in nhau" " Làm người rơ thấu lư sâu " " Rửa ḷng trong sạch, tụng cầu Thánh kinh ".

Cách cắm hương. Khi ta đốt năm cây hương, xá ba xá. Chúng ta cắm cây thứ nhất ngay giữa b́nh hương tượng trưng cho ngôi Thiên là Phật, chúng ta cắm cây thứ nh́ vào bên trái của cây thứ nhất, tượng trưng cho ngôi Địa là Pháp. Và sau đó cắm cây thứ ba vào bên phải của cây thứ nhất tượng trưng cho ngôi Nhơn hay là Tăng. Trở lại cắm cây thứ tư hàng ngoài bên trái và ở giữa cây thứ hai và thứ nhất gọi là Âm, cắm cây thứ năm hàng ngoài ở giữa cây thứ nhất và thứ ba bên phải gọi là Dương, hiệp với ba cây hàng trong mới gọi là tượng Ngũ Khí. Ba cây hàng trong. Cây ở giữa thuộc về Hỏa Khí, tức là Trời (Thiên). Cây ở b́a bên trái ta thuộc về Thổ khí, tức là Đất (Địa) . Cây ở b́a bên phải ta thuộc về Kim khí, tức là Người (Nhơn)  Hai cây hàng ngoài. Cây ở b́a bên trái ta thuộc về Thủy khí, tức là Âm.  Cây ở b́a bên phải ta thuộc về Mộc khí, tức là Dương.

Trong quyển Thiên Đạo của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu, có đoạn nói về 5 cây hương như vầy:

1. Giới hương, nghĩa là giử trọn giới cấm cho tâm ḿnh trong sạch (cây hương ở giữa).

2. Định hương, nghĩa là thiền định cho tâm hồn yên tịnh (cây hương bên trái).

3. Huệ hương, nghĩa là thiền định rồi th́ phát huệ (cây hương bên phải).

4..Tri kiến hương, nghĩa là phát huệ rồi gia công thêm nữa th́ sẽ biết cái lẽ mầu nhiệm của Tạo Hoá, tức là đắc lục thông (cây hương hàng ngoài bên trái).

5. Giải thoát hương, nghĩa là giải thoát luân hồi quả báo (cây hương hàng ngoài bên phải).

5 và 9.  5 Nước trà (để bên hữu ấy là Âm) 9 Nước trắng (để bên Tả ấy là Dương) Dương là Trời, Âm là Đất.

6, 7 và 8 ba ly rượu Ba ly rượu tượng trưng cho Khí. Tức là Hư vô chi khí, do Đức Diêu Tŕ Kim Mẫu chưởng quản. Khí là cái phách hay trí năo của chúng ta. Cũng là cái chánh khí trong người (như đă giải ở trang trước)Ba ly rượu tượng trưng cho ba cỏi : Hạ giới, Trung giới, Thượng giới có nghĩa là Phàm nhơn, Thần, Thánh, Tiên, Phật. Khi cúng rót rượu ba phân tượng trưng cho ba bậc tu hành : Hạ thừa, Trung thừa, Thượng thừa và ba bậc trí thức là : Hạ lưu, Trung lưu, và Thượng lưu. Khí là trí năo lại đứng trung gian đặng liên tiếp với Tinh và Thần, hiệp nhau lại mới đủ Tam Bửu. Nên khi dâng Tam Bửu th́ chén nước trà để bên hữu, chính giữa là ly rượu, bên tả là b́nh bông, nên gọi là : Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt.